Thứ Tư, 27 tháng 8, 2008

GIẢI MÃ TÂY DU KÍ

NỖI LÒNG GIẤY TRẮNG


Nghe tin báo thầy trò Đường tăng đã đến, “Phật tổ mừng lắm, lập tức xuống chiếu vàng, cho gọi tám vị bồ tát, bốn vị kim cương, năm trăm vị a la hán, ba nghìn vị yết đế, mười một vị đại diệu, mười tám vị già lam vào đứng xếp thành hai hàng, sau đó mới xuống chiếu vàng cho gọi Đường tăng vào.” [TÂY DU KÝ X 1988: 164]

Mở đầu cho việc truyền kinh mà tả tỉ mỉ cảnh đón tiếp long trọng hiếm có như thế nhằm ngụ ý rằng đạo pháp không phải dễ duôi truyền thụ (đạo pháp bất khinh truyền).
Trong chùa Lôi âm, được diện kiến Phật tổ Như lai tại điện Đại hùng, sau một số nghi lễ cho đủ thủ tục, Đường tăng quỳ lạy và thưa rằng:

“Muôn xin Phật tổ ra ơn, ban cho chân kinh sớm mang về nước.” Như lai bèn mở miệng từ bi, động lòng thương xót, nói với Tam tạng: “Cõi đông thổ của nhà ngươi (...) người đông vật thịnh, tham lam độc ác, trí trá gian dâm, (...) bất trung bất hiếu, bất nghĩa bất nhân, lừa mình dối người (...) Nay ta có ba tạng kinh có thể siêu thoát khổ não, giải trừ tai ương (...). Các ngươi từ xa xôi tới đây, ta cũng muốn trao cho tất cả mang về, chỉ e người phương đó ngu si lỗ mãng hủy báng chân ngôn, không biết ý chỉ sâu xa trong đạo của ta.” [TDK X 1988: 165-166]

Trước khi tìm hiểu dụng ý của Ngô Thừa Ân vì sao phải dông dài như thế, cũng nên biết rằng đoạn văn trên đây của Tây du hoàn toàn phù hợp với lịch sử truyền giáo của nhà Phật.

Ba lần thỉnh pháp
Lịch sử đạo Phật ở Ấn Độ, khi chép về thời kỳ tu chứng của tu sĩ khổ hạnh Cồ đàm, cho biết rằng lúc đắc quả Phật chánh đẳng chánh giác, ngồi ở gốc cây Ajapala bên bờ sông Ni Liên Thiền, Đức Phật đã trầm tư về vấn đề có nên đem cái đạo pháp giải thoát mà Phật đã tự chứng đắc truyền bá cho người đời hay không, thì mấy lượt Ngài đã do dự.
Lần thứ nhất, đức Phật nghĩ rằng: “Đạo pháp mà Như lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, mà tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu (...) Như lai đã khó khăn lắm mới chứng ngộ được đạo pháp. Không cần phải phổ biến đạo pháp ngay lúc này. Người thế gian còn mang nặng tham ái và sân hận không dễ gì thấu triệt.”
Liền sau đó, một vị Phạm thiên (Brahma) ở cõi trời đọc được tư tưởng của Phật, liền cầu thỉnh Phật từ bi mà truyền đạo. Phật trả lời: “Người đời tham ái chìm đắm trong đêm tối, bị đám mây mù tham ái bao phủ, sẽ không thấy được đạo pháp bởi vì đạo pháp đi ngược dòng tham ái. Đạo pháp sâu kín, thâm diệu, khó nhận thức, và tế nhị. Vì suy gẫm như thế, Như lai chưa quyết định truyền bá đạo pháp.”
Vị Phạm thiên khẩn nài lần thứ nhì, Phật cũng đáp như thế. Mãi đến khi thỉnh pháp lần thứ ba, Phật mới đồng ý và tuyên bố: “Cửa vô sanh bất diệt đã mở cho chúng sanh. Hãy để cho ai có tai nghe đặt trọn niềm tin tưởng!” [Narada 1964: 60-63]
Trương Lương ba lần nhặt dép mới được tiên ông Hoàng Thạch công trao quyển thiên thư. Lưu Bị ba lần hạ mình tới nhà tranh (tam cố thảo lư) mới thỉnh được Khổng Minh. Cái gì khó khăn mới đạt được, càng khó thì đời càng quý, càng trọng. Cái gì dễ dàng có được thì người ta dễ duôi, coi thường. Và chỉ ai biết giá trị của quý mới ráng sức đánh đổi tương xứng để đạt được bảo vật đó. Đây cũng là ẩn ý đạo pháp bất khinh truyền.
Bởi thế, muốn lấy được bảo bối của Phật, tức là thỉnh được kinh mầu nhiệm có thể cứu người thoát vòng luân hồi sinh tử, Đường tăng đương nhiên phải đánh đổi lại cho tương xứng. Đánh đổi cái gì và đánh đổi như thế nào?
Mật nghĩa việc đánh đổi bình bát
Truyện Tây du kể rằng:
“A-nan, Ca-diếp dẫn Đường tăng xem khắp tên các bộ kinh một lượt, đoạn nói với Đường tăng: Thánh tăng từ phương Đông tới đây, chắc có chút lễ vật gì biếu chúng tôi chăng? Mau đưa ra đây chúng tôi mới trao kinh cho.
Tam tạng nghe xong nói: Đệ tử là Huyền Trang, vượt đường sá xa xôi, chẳng chuẩn bị được quà cáp gì cả.
Hai vị tôn giả cười nói: Hà! Hà! Tay trắng trao kinh truyền đời, người sau đến chết đói mất.” [TDK X 1988: 168]
Đọc tơ lơ mơ, lắm người bảo rằng A- nan và Ca-diếp đòi ăn hối lộ! Thực ra, làm gì có chuyện vòi vĩnh của đút lót ở cửa Phật!
Trong mười đại đệ tử của Phật, ông Ca-diếp đứng hạng ba, A nan đứng thứ mười, đều đắc quả A la hán, dứt bỏ hết các lỗi lầm (nhứt thiết lậu tận), không lẽ lại vướng lụy vì chút của cải vụn vặt của thế gian ư?
Theo lịch sử Thiền tông Ấn Độ, Phật Thích ca (Phật tổ) là Sơ tổ, Ca diếp là Nhị tổ, A nan là Tam tổ. Bậc giác ngộ đã lìa thế gian, thoát vòng sanh tử, làm sao có thể mở miệng vòi của lót tay?

Khi Hành giả (Tề thiên) khiếu nại sự việc bị đòi lễ vật, Phật tổ cười nói: “Nhà ngươi cứ bình tĩnh. Việc hai người [A nan, Ca diếp] vòi lễ các ngươi, ta đã biết rồi. Có điều kinh không phải trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được.” [TDK X 1988: 172]
Rốt cuộc, khi đổi kinh vô tự để lấy kinh có chữ, Đường tăng vẫn bị đòi dâng lễ vật. “Tam tạng chẳng có vật gì dâng, đành bảo Sa tăng mang ra chiếc bát tộ vàng (...) A-nan nhận lấy chiếc bát, tủm tỉm cười.” [TDK X 1988: 173]

Tại sao Tam tạng chẳng có vật gì dâng? Thực ra Tam tạng còn có hai bảo vật của Phật Quan âm tặng: chiếc cà sa báu và cây thiền trượng. Thế thì tại sao lại chỉ dâng cho A-nan chiếc bình bát?
Trong đời sống xuất gia, bình bát (patra) vốn là biểu tượng của nhà tu khất thực (khất sĩ trì bát). Nhưng chiếc bình bát bằng vàng nguyên là của vua Đường tặng cho ngự đệ (em vua) kết nghĩa. Vì thế, trong tình huống này, nó còn tượng trưng cho của cải và danh vọng ở thế gian.
Ngoài ra, nói rằng Tam tạng chẳng có vật gì đem theo là ám chỉ kẻ xuất gia tu hành không còn tư hữu (tăng vô nhất vật). Để lãnh kinh báu của Phật, dâng nạp bình bát là ngụ ý: muốn thọ lãnh đạo giải thoát của Phật, con người phải xuất gia, lìa bỏ danh vọng và của cải thế tục.
Hành động của Đường tăng ở đây là ẩn dụ, có tính cách biểu tượng. Theo truyền thống đạo học thì đạo pháp không thể truyền thụ dễ duôi (đạo pháp bất khinh truyền), cho nên kẻ học đạo, muốn thọ pháp, phải đánh đổi. Đánh đổi có nhiều hình thức.
Khi Thái tử Cồ đàm tìm đạo giải thoát, Ngài đã phải đánh đổi cả ngai vàng, vợ đẹp, con thơ, cả cuộc sống nhung lụa đế vương.

Khi Thần Quang (tức Huệ Khả, Nhị tổ Thiền tông Trung Hoa) cầu đạo với Sơ tổ Bồ đề Đạt ma, và bị từ chối, Ngài đã tự mình chặt lìa cánh tay trái dâng lên thầy. Đó là ngụ ý sẵn sàng đánh đổi sinh mạng phàm phu để thọ lãnh đạo giải thoát tối thượng của thiền môn.

Vì sao A-nan và Ca-diếp sợ người sau chết đói?

Ngoài ý nghĩa đạo pháp bất khinh truyền và phải đánh đổi như trên, cũng nên chú ý đến lời nói của A nan và Ca diếp: “Hai vị tôn giả cười nói: Hà! Hà! Tay trắng trao kinh truyền đời, người sau đến chết đói mất.” Tại sao lại là người sau chết đói? Tại sao có chuyện ăn uống nơi đây?

Xin thưa, đạo giải thoát cũng được gọi là pháp thực. Con người thân xác hữu cơ vốn cần có thực phẩm hữu cơ nuôi dưỡng thì con người tâm linh cũng cần có đạo pháp làm thực phẩm dưỡng nuôi.
Muốn cho đời này sang đời khác vẫn có được pháp thực nuôi tâm linh con người thì đạo pháp phải được trường lưu. Muốn đạo pháp trường lưu thì phải có con người xứng đáng nắm giữ đạo pháp để xiển dương và hoằng giáo. Đạo tuy thiêng liêng, nhưng bắt buộc phải có vai trò chủ sử của con người. Bởi thế, sách Nho có câu: Nhân năng hoằng Đạo, phi Đạo hoằng nhân.

Nếu dễ duôi truyền đạo pháp cho người không xứng đáng, chẳng những kẻ ấy không thể hoằng dương được chánh pháp mà còn khiến cho dòng đạo pháp suy tàn, bế tắc. Như thế, đời sau sẽ không còn hưởng được vị ngọt pháp thực nữa, nghĩa là tâm linh con người sẽ “đói”.

Chính vì lẽ sống còn này mà các bậc giáo tổ ngày xưa trước khi được lãnh trọng trách, đã phải chịu thử thách, chịu “bầm dập” đủ điều từ nội tâm tới thân xác và ngoại cảnh.
Mạnh tử đã sớm nói rõ điều trọng yếu ấy như sau: “Thế nên hễ Trời định phó thác trách nhiệm lớn lao cho người nào, trước hết phải làm cho người ấy khổ não tâm chí, lao nhọc gân cốt, đói khát cầu bơ cầu bất, nghèo nàn thiếu trước hụt sau, và làm rối loạn, điên đảo các việc làm của người ấy. Làm thế để mà phát động lương tâm của người, cho nhẫn kiên tánh tình của người, và gia tăng tài đức còn khiếm khuyết của người.” [“Cố Thiên tương giáng đại nhiệm ư thị nhân dã, tất tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngạ kỳ thể phu, không phạp kỳ thân, hành phất loạn kỳ sở vi. Sở dĩ động tâm nhẫn tánh, tăng ích kỳ sở bất năng.” Mạnh tử: Cáo tử, chương cú hạ, 15.]


Trở lại với việc Ngài A-nan và Ca-diếp đòi lễ vật. Ngoài những ý nghĩa hàm ngụ như đã trên đây, hư cấu sự kiện này còn để gài vào một tình tiết hợp lý là lãnh kinh không chữ và đổi kinh có chữ.
Từ kinh vô tự đến kinh hữu tự (pháp vô vi ra pháp hữu vi)
Thoạt đầu, Ngài A nan và Ca diếp trao kinh không chữ (kinh vô tự), các quyển kinh toàn giấy trắng! Phật tổ dạy thầy trò Đường tăng: “Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay.” [TDK X 1988: 172]. Tuy vậy, Phật cũng đồng ý cho đổi lấy kinh có chữ. Then chốt ở đây là kinh vô tự có trước rồi sau mới có kinh hữu tự. Nó đúng với lịch sử truyền pháp của đạo Phật và nhiều tôn giáo khác ở phương Đông
Khai sáng Phật giáo là Thích ca. Khi Thích ca đi tu, không có tụng kinh, không có lễ bái, dộng chuông, thắp nhang, đốt sớ. Thích ca đắc đạo, chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác (a nậu đa la tam miệu tam bồ đề) thì Ngài vốn không có thầy. Không thầy, không kinh, biết lấy chi bám víu mà đạt đạo? Ngài chỉ nhờ giác ngộ được bổn tâm của mình. Bằng con đường tham thiền mà Ngài giác ngộ. Kinh vô tự ám chỉ pháp môn thiền. Thiền hay nội giáo tâm truyền (esoterism) dành cho những bậc đại căn đại trí.
Khi Phật truyền tâm ấn cho Nhị tổ Ca diếp, cũng không có văn tự. Sử chép rằng: Ngày kia, Phật tại núi Linh Thứu, trước đông đảo đệ tử Phật bắt đầu thuyết pháp bằng cách im lặng (vô ngôn) và cầm một cành hoa đưa lên trước đại chúng (niêm hoa). Mọi người bàng hoàng chẳng hiểu ý chi. Riêng đại đệ tử thứ ba là Ca diếp nhoẻn miệng cười (vi tiếu). Phật thấy Ca diếp đã lãnh hội được, bèn truyền tâm ấn cho Ca diếp làm Nhị tổ Thiền tông với lời lẽ như sau: “Ngã hữu chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, vi diệu pháp môn, thực tướng vô tướng, kim phó chúc Ma ha Ca diếp.” (Ta có kho tàng con mắt của chánh pháp, tâm huyền diệu của niết bàn, cửa pháp vi diệu, thực tướng vô tướng, nay đem trao lại cho Đại Ca diếp.)


Tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ là Bồ đề Đạt ma qua Trung Quốc làm Sơ tổ Thiền vào năm 520 cũng tóm tắt tôn chỉ lập giáo của Ngài như sau:
Bất lập văn tự,
Giáo ngoại biệt truyền.
Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật.

Tôn chỉ của Tổ Đạt-ma có nghĩa là: Không thông qua chữ nghĩa, không sử dụng kinh điển giáo lý, nhắm thẳng vào nội tâm con người, hễ thấy bổn tánh thì thành Phật.
Tóm lại, kinh vô tự giấy trắng là biểu tượng của tâm pháp, của thiền môn, là nội giáo, cái mà Khổng tử gọi là hình nhi thượng học (esoterism). Ở Ấn Độ, nó có từ Thích ca, ở Trung Quốc, nó truyền từ Tổ Đạt ma.

Sau khi Phật Thích ca tịch diệt, nhập niết bàn, do nhu cầu truyền giáo, các đại đệ tử mới tổ chức ghi chép lại lời dạy của Phật. Công lao này đứng đầu là A-nan. Vì khi Phật còn tại thế, ông A-nan được tuyển làm thị giả hầu cận đức Phật, nên ông được nghe Phật thuyết pháp nhiều hơn ai hết, và nhờ có trí nhớ kiểu Lê Quý Đôn, nên đã nghe thì bộ nhớ ghi lại trọn vẹn, không sót một lời.

Ông nghe kinh nhiều quá thành ra... tu luyện huyền công có phần nào hơi kém cỏi hơn đồng đạo, thần thông đã thua anh em, mà chứng ngộ cũng trễ hơn anh em. Bù lại, ông được tôn là Đa văn đệ nhứt trong mười đại đệ tử; ông tuy hạng nhứt về nghe kinh nhiều, nhưng lại xếp hạng chót trong mười đại đệ tử. (Lý thuyết kém hơn thực hành chăng?)
Vậy vô vi hay kinh vô tự có trước, về sau mới có kinh hữu tự, hữu vi. Có hữu vi nên mới dựng chùa, đúc chuông, tô tượng Phật, tụng kinh, thắp nhang, đốt sớ, v.v... Con đường truyền giáo này phù hợp cho đại chúng, nó là phổ độ, là hình nhi hạ học, là ngoại giáo công truyền (exoterism).

Phật pháp truyền từ Ngài Thích ca đến Ca diếp đánh dấu bằng tâm ấn "niêm hoa vi tiếu", vắng bặt ngôn ngữ. Ca diếp là Nhị tổ, truyền đến Tam tổ là A nan thì bắt đầu có tổ chức kết tập kinh điển, văn tự miên man, lời lẽ dằng dặc. Cho nên có thể thấy Ca diếp là tiêu biểu cho con đường tâm pháp nội tu (kinh vô tự giấy trắng) và A nan là tượng trưng cho giáo lý công truyền (kinh hữu tự). Hiểu như vậy mới cảm nhận được trọn vẹn chỗ tài tình của Ngô Thừa Ân, vì sao lại phải chọn đúng Ca diếp, A nan là người trao kinh cho Đường tăng trong lúc bấy giờ ở điện Đại hùng còn có tám bồ tát, bốn kim cang, mười một đại diệu, mười tám già lam, năm trăm la hán, và ba ngàn yết đế [TDK X 1988: 164].
Kinh vô tự bị đem trả lại chùa Lôi âm để đổi lấy kinh hữu tự! Đó là con đường mà tâm pháp bị hữu vi hóa, đạo pháp thất chơn truyền. Ở Trung Hoa đó là hình ảnh mà thiền (tâm pháp) từ Bồ đề Đạt ma truyền xuống Lục tổ Huệ Năng thì rẽ ngang nhánh Thần Tú (ngoại giáo). Cũng là hình ảnh của đạo Lão từ Lão tử truyền xuống tới Trương Đạo Lăng thì biến ra âm thanh sắc tướng.

Theo Phật, Lão và Cao đài, chỉ có thực hành thiền (nội tu) mới có thể giải thoát thực sự. Ngoài ra, tu kinh tu kệ thì chỉ là lý thuyết. Giáo lý chỉ có thể giúp con người sáng suốt, trang bị thêm một mớ kiến thức chữ nghĩa chứ không biến được phàm phu ra phật ra tiên. Nói cách khác, tu bằng kinh hữu tự con người chưa thể đáo bỉ ngạn để qua tới bến bờ giác ngộ. Kinh hữu tự không thể đưa con người đến rốt ráo của giải thoát. Ý chỉ sâu sắc đó được Ngô Thừa Ân diễn tả bằng việc phơi kinh ướt ở bờ sông Thông thiên [TDK X 1988: 189], bị mất hết mấy tờ cuối quyển. Đọc kinh mà không tới chung kết cũng giống như tu hành mà không đạt kết quả (không giải thoát).

Trở lại với lời cảnh tỉnh của Phật tổ trước lúc trao kinh cho Đường tăng: “... chỉ e người phương đó ngu si lỗ mãng huỷ báng chân ngôn, không biết ý chỉ sâu xa trong đạo của ta.” [TDK X 1988: 166]. Kinh giấy trắng cao siêu quá, tuy không hủy báng, nhưng đã đặt vào tay mà còn đem trả lại, cũng gần như là chê bỏ!

Không ai giao sách cho người không biết đọc. Kinh vô tự của Phật vì vậy không đọc được bằng nhục nhãn (mắt thịt). Nhục nhãn chỉ đọc đưọc kinh hữu tự không toàn vẹn (thiếu trang chót). Kinh vô tự phải đọc bằng tâm, bằng nghị lực tự thắng của hành giả cô đơn. Và như thế, nỗi lòng giấy trắng không phải để san sẻ cho đại chúng bì phu, mà chỉ hiện chữ cảm thông cho riêng ai âm thầm với trăng sao soi cửa động. (BÀI SƯU TẦM)


LÊ ANH DŨNG
(10-02-1992 - 14-02-1995)
http://giaimatruyentaydu.blogspot.com/2007/08/ni-lng-giy-trng.html

HÀI CÚ NHẬT BẢN - BỨC TRANH THỦY MẠC TRONG THƠ

Hài Cú Nhật Bản_Bức Tranh Thủy Mặc Trong Thơ
(Bài sưu tầm)

Đọc và viết Hài Cú (haiku), được thực hành rộng rãi đến mức có thể xem chúng như thành tố của văn hóa dân tộc Nhật. Sự ngắn gọn và tính chất đơn giản biểu kiến của mười_bảy_âm_tiết (5/7/5) đã góp phần cho Hài Cú trở nên phổ biến trong giới bình dân và chủ yếu được làm vì niềm hân hoan của tác giả và bằng hữu.
Hài Cú trong tay những bậc thầy vĩ đại lại là một hình thức ngệ thuật đòi hỏi nhiều công phu, yêu cầu tuân thủ các tiêu chuẩn mỹ học nghiêm ngặt về tính cụ thể, tính khách quan và tính gợi ý.

Moritake một tu sĩ thần đạo đã có bài thơ nổi tiếng:

Đào hoa rời rụng
Trở lại cảnh xanh
Ồ cành bướm lung linh

Có cảm hứng từ một dòng kinh: ‘ một cánh hoa rụng có thể trở lên cành của nó không?’
Còn Sòkan lại có những hình tượng tài tình:

Nếu vần trăng tra cán
A rạng ngời
Cây quạt

Và Teitoku thí có những thi tứ đích thực:

Ồ utsugi
Tuyết nguyệt hoa hiển lộ
Tức thì

Trọng điểm ở đây là ‘ tuyết-nguyệt-hoa’ bộ ba truyền thống về cái đẹp. và những bông hoa trắng nhỏ trên những bụi utsugi rất giống những mảng tuyết đọng trong tranh thủy mặc.
Nếu ta có ấn tượng mô hồ sinh ra do cách viết quá cô đọng, hay cảm thấy khó hiểu trước những tuyệt tác thì ta nên nhớ rằng ‘ nghệ thuật liên quan đến cảm xúc của con người hơn là hành vi’. Vậy ta hãy cảm nó hơn là cố công giải nghĩa nó. Và sau đây:

Những trái ớt son
Đôi cánh chắp
Tung tóe lũ chuồn chuồn (Basho).

Khúc ca mùa gieo cấy
Trên thăm thẳm xứ miền
Nghệ thuật khởi nguyên (Basho).

Qua từng lá cỏ xanh
Hỡi sương ngọc
Chơi tiếp cuộc quẩn quanh (Ransetsu).

Mắc ngọn cành thông
Hay gỡ thoát
Một niềm si vọng trăng ( Hokushi).

Động
Âm
Ngã vật hình nhân (Bonchò).

Anh đào anh đào
Tràn lan
A ha ngựa bốn vó chim hai chân (Onitsura).

Cá hồi đưa tặng
Chẳng vào thăng đi mất
Cổng khuya khoắt (Buson).

Một chỗ lánh đêm
Kiếm tuốt
Tuyết cuốn (Buson).

Trên vệt đuôi chim rừng
Bước giẫm
Tịch tà nắng xuân (Buson).

Và đây nữa cách đọc Hài Cú:
Ban ngày tối ngày
Ban đêm sáng đêm
Tiếng ếch dội âm (Buson)

Đây là bài Hài Cú tượng thanh mạnh mẽ nhất. Người đọc được khuyên đọc to và nhanh trong nhật ngữ: Hi/wa/hi/kure/yo/yo/wa/yo/ake/yo/to/matu_kawazu. Thực hiện đúng như thế, chắc chắn người đọc sẽ kêu giống loài ếch.

Hay : Tẩm sương dãi dầm
Bồ câu u trầm
Nam _mô_A_Di_Đà_Phật

Nguyên tác trong thơ tiếng nhật: Tsuyu/honori/ honori /to/hato_no/nembutsu/kana, tiếng honori,honori (đầm đìa, mong manh) không chỉ biếu thị niềm trắc ẩn, một xúc động ứa nước mắt, nó còn biểu tượng âm cho loài bồ câu.
Trích ‘ Hài Cú Nhập Môn’
SƯU TẦM TỪ BLOG "illidian" , ĐỊA CHỈ:
http://vn.rd.yahoo.com/blog/mod/art_title/*http://vn.myblog.yahoo.com/phvarch/article?mid=257

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2008

PHUT KINH HOANG (THO ĐAO LY)



PHÚT KINH HOÀNG

Lạy bốn lạy, con quỳ bên Mẹ
Tay run-run lòng sung-sướng dạt-dào
Mẹ vào đời
Đời đen tối - chẳng một vì sao
Có gió lạnh căm-căm
Có mưa phùn rét mướt
Mẹ dắt tay con, con lần từng bước
Mẹ âm-thầm - con cũng lặng người theo

Mẹ nói với con:
"Đời đau khổ đói nghèo!
Nhưng chẳng khổ bằng đời không ánh sáng"
Đôi mắt Mẹ hai vì sao ló dạng
Mẹ mỉm cười:
"Ánh sáng tự lòng ta"

Còn nữa con ơi!
Trong thăm-thẳm bao la
Mẹ nghe thấu những lời rên xiết
Nhưng tất-cả muôn loài không hay biết
Nên Mẹ còn
Đi mãi, mãi chưa thôi
Địa-ngục kìa hiển-hiện,
Ngạ-quỹ vẫn trêu-ngươi


Tình lục-đạo Mẹ không đành chối bỏ
và bước đi

Sao Mẹ về lối đó???
Mẹ mỉm cười: "Chốn nọ vẫn còn duyên"
Rồi con ơi! Chấn động cả Tam-thiên
Con sẽ thấy

Những gì con mong thấy



Trong mưa gió - có muôn trùng lửa dậy
Qua hết rồi xóa sạch một nguồn mê
Ánh Hồng-dương rạng-rỡ khắp tư bề
Quỳ bên Mẹ,
Phút kinh-hoàng vừa trọn.

(Tứ-Không Chân-Nhân)

TRAC NGHIEM NHAN CACH - DAP AN

ĐÁP ÁN

CẢNH BÁO: Ai chưa làm 4 câu hỏi trắc nghiệm về nhân cách của người Tây Tạng ở thư mục: "TRẮC NGHIỆM VỀ NHÂN CÁCH" thì chưa được đọc bài nầy vì bạn sẽ không có cơ hội để có được câu trả lời đúng về cuộc đời bạn - bạn sẽ rất hối tiếc !!!...Nên quay ra tìm đọc phần giới thiệu và câu hỏi trước:


ĐÁP ÁN 4 CÂU HỎI TRONG THƯ MỤC "TRẮC NGHIỆM NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI TÂY TẠNG"


(1) Điều này định nghĩa những ưu tiên của bạn trong đời:


Bò: Biểu thị CÔNG VIỆC
Hổ: Biểu thị SỰ KIÊU HÃNH
Cừu: Biểu thị TÌNH YÊU
Ngựa: Biểu thị GIA ĐÌNH
Lợn: Biểu thị TIỀN BẠC


(2) - Sự miêu tả về con CHÓ hàm ý tính cách của bạn.
- Sự miêu tả về con MÈO hàm ý tính cách người bạn của bạn.
- Sự miêu tả về con CHUỘT hàm ý tính cách người thù địch với bạn.
- Sự miêu tả của bạn về CÀ PHÊ cho biết giới tính của bạn.
- Sự miêu tả về BIỂN hàm ý cuộc sống của chính bạn.


(3) (Màu sắc bạn chọn):


VÀNG: Một người mà bạn sẽ không bao giờ quên được
CAM: Một người mà bạn coi là bạn thực sự
ĐỎ: Một người mà bạn thực sự yêu
XANH: Một người mà bạn sẽ ghi nhớ trong quãng đời còn lại của bạn
TRẮNG: Một người đồng tâm với bạn


(4) Bạn phải giới thiệu thông điệp này tới số người bằng với con số bạn yêu thích và ước mơ của bạn sẽ thành hiện thực trong ngày bạn ghi nhận.


- Đây là điều mà Đức Dalai Lama đã nói về Thiên niên kỉ:
- Chỉ mất mấy giây! Nhìn vào nó, đọc nó và suy nghĩ.
- Không được bỏ đi thông điệp này, câu thần chú sẽ xuất phát từ đôi tay bạn trong 96 giờ tới (4 ngày tới). bạn sẽ có một sự ngạc nhiên thật dễ thương.
- Đây là một sự thật, cho dù bạn không mê tín. Xin hãy làm điều này. Thật thú vị.


- Gửi E-Mail THẦN CHÚ NÀY TỚI ÍT NHẤT 5 NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG CỦA BẠN SẼ ĐƯỢC CẢI THIỆN:


+ 0 - 4 NGƯỜI: cuộc sống của bạn sẽ được cải thiện một chút.


+ 5 - 9 NGƯỜI: cuộc sống của bạn sẽ cải thiện sở thích của bạn.


+ 9 - 14 NGƯỜI: bạn sẽ có ít nhất 5 điều ngạc nhiên trong 3 tuần tới.


+ 15 NGƯỜI HOẶC HƠN: cuộc sống của bạn sẽ cải thiện mạnh mẽ và mọi điều ước mơ sẽ trở thành hiện thực.

BÀI TRẮC NGHIỆM NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI TÂY TẠNG

BÀI TRẮC NGHIỆM NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI TÂY TẠNG
(XIN XEM TRƯỚC PHẦN GIỚI THIỆU ĐỂ LÀM CHO ĐÚNG:



(Phần câu hỏi)
(1) XẾP 5 CON VẬT THEO TRẬT TỰ BẠN THÍCH NHẤT:


Bò , Hổ , Cừu , Ngựa , Lợn.


(2) VIẾT MỘT CHỮ MÀ CHỮ ẤY MÔ TẢ MỘT TRONG NHỮNG THỨ SAU:

Chó , Mèo , chuột , cà phê , Biển.

(3) NGHĨ VỀ MỘT NGƯỜI MÀ NGƯỜI NẦY CŨNG BIẾT BẠN. CÓ THỂ LIÊN HỆ NGƯỜI NẦY VỚI NHỮNG MÀU SAU:

+ Không được lập lại 2 lần câu trả lời.
+ Đặt tên chính người ấy theo một màu sau (chọn một màu thôi)


Vàng ; Cam ; Đỏ ; Xanh ; Trắng

(4) CUỐI CÙNG HÃY VIẾT CON SỐ BẠN YÊU THÍCH VÀ NGÀY TRONG TUẦN BẠN YÊU THÍCH.


+ Bạn kết thúc chưa?
+ Xin hãy đảm bảo rằng các câu trả lời của bạn là những điều mà bạn THỰC SỰ MONG MUỐN.
+ Nhìn vào những giải thích dưới đây: nhưng khởi đầu, trước khi tiếp tục, hãy NHẮC LẠI ước mơ của bạn?

+ (Ghi ra giấy 4 câu trả lời cho 4 câu hỏi trên để chắc chắn bạn không thay đổi nữa - và để coi lại sau khi đối chiếu với đáp án)

(-> Xem tiếp phần đáp án trong bài "ĐÁP ÁN VỀ TRẮC NGHIỆM NHÂN CÁCH" trong thư mục "TỔNG HỢP" của blog này)


http://vn.rd.yahoo.com/blog/mod/art_title/*http://vn.myblog.yahoo.com/anhvutran1963/article?mid=70

BÀI TRẮC NGHIỆM NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI TÂY TẠNG

BÀI TRẮC NGHIỆM NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI TÂY TẠNG

(Phần giới thiệu)

(Ghi chú: Đây là một chương trình Trac-nghiem-nhan-cach.pps Microsoft PowerPoit Slide Show 147 KB. - Nhưng người viết blog chưa biết nhúng nó và trang blog bằng cách nào nên phải đánh máy lại. Các bạn nên đọc thật kỹ, từ từ, làm và ghi chú với giấy bút, vì chương trình Web bản gốc chạy từ từ không vội vả.)

- Bạn hãy dành chút thời gian cho bài trắc nghiệm này và bạn sẽ thấy ngạc nhiên đó.
- Đức Dalai Lama gợi ý bạn nên đọc điều này để thấy giả như điều này xảy ra cho bạn.
- Chỉ có 4 câu hỏi và câu trả lời sẽ khiến bạn ngạc nhiên.
- Thông báo!!
Phải trung thành và không được gian dối qua việc nhìn lén các câu trả lời
+ Trí óc giống hệt chiếc dù, nó chỉ hoạt động khi được mở ra .
+ Làm điều này có vẻ buồn cười đấy nhưng bạn phải làm theo chỉ dẫn một cách tỉ mỉ nhé! Không được gian lận đấy.
- TẠO MỘT ƯỚC MƠ.
Trước khi bắt đầu bài trắc nghiệm.
- Một thông báo:
- Trả lời câu hỏi như bạn làm. Chỉ có 4 câu hỏi và nếu bạn nhìn thấy chúng trước khi hoàn tất, bạn sẽ không có những kết quả trung thành đâu.
- Từ từ theo từng bước sau, và hoàn thành từng bài tập khi bạn mở từng trang.
- Không được nhìn vào màn hình mãi. Dùng bút chì và tờ giấy để viết câu trả lời của chúng ta như bạn đang làm nhé.
- Bạn cần nó vào hồi cuối. Đây là một bản câu hỏi trung thành, nó nói cho bạn rất nhiều về sự thật của chính bạn.
+ Đưa ra câu hỏi cho từng phần, cái gì đến trước trong tâm trí bạn luôn là câu trả lời tốt nhất.
+ GHI NHỚ: Không ai có thể nhìn thấy điều này ngòai bạn.
(Xin xem tiếp phần câu hỏi trong cùng thư mục này)

http://vn.rd.yahoo.com/blog/mod/art_title/*http://vn.myblog.yahoo.com/anhvutran1963/article?mid=69

TRICH TU SACH: THE WAY OF THE WHITE CLOUDS

TRÍCH TỪ SÁCH: THE WAY OF THE WHITE CLOUDS
ĐƯỜNG MÂY QUA XỨ TUYẾT

Ý NGHĨA CỦA CÂU THẦN CHÚ:
ÁN MA NI BÁT MÊ HỒNG
"OM MANI PADME HUM"


OM: Mọi hành động thân khẩu ý,
MANI: Hương thơm của trí tuệ,
PADME: Lòng từ bi khai mở như bông sen, vươn cao khỏi bùn và bắt đầu khai hoa, HUM: sự phản ánh trọn vẹn đúng cái ý nghĩa cao đẹp nhất của sự sống.



=> Chỉ khi lòng từ bi hòan tòan khai mở như một bông sen (Padme) vươn cao lên khỏi vũng bùn và bắt đầu khai hoa, thì hương thơm của Trí-tuệ (Mani) mới bắt đầu tỏa ra khắp nơi và mọi hành động thân khẩu ý (Om) mới thật sự phản ánh trọn vẹn đúng cái ý nghĩa cao đẹp nhất của sự sống (Hum).